Giới thiệu

  1. Tài sản, nguồn lực, tài nguyên được xem là như nhau, và sẽ được dùng linh hoạt tùy bối cảnh
  2. Văn bản này hướng dẫn mọi cách sử dụng những nguồn lực được xem là thuộc sở hữu của Lý Minh Nhật (gọi tắt là Nhật) sau:
    • Sự chú ý
    • Thời gian
    • Tiền bạc
    • Đồ vật
    • Uy tín
    • Điểm tín dụng
    • Thông tin
  3. Thời gian, tiền bạc, sự chú ý, đồ vật là những loại nguồn lực có tổng bằng 0; một khi được sử dụng hoặc cho người khác thì nó sẽ bị mất đi không lấy lại được. Những loại nguồn lực khác thì khi sử dụng hoặc cho đi thì không bị mất đi

Tinh thần chung

  1. Nguồn lực của Nhật là nguồn lực của tất cả mọi người, được dùng với mục đích đem lại điều tốt nhất cho mọi người một cách bền vững nhất
  2. Thế nào là "của Nhật", "mọi người", "điều tốt nhất", "bền vững nhất", hay bất kỳ chủ đề nào có liên quan sẽ được thống nhất trong các cuộc thảo luận. Những người tham gia thảo luận cần sẵn sàng cho việc thay đổi quan điểm của bản thân. Bất kỳ ai cũng có quyền tham gia thảo luận
  3. Nhật không có nhu cầu được biết ơn. Tuy nhiên vẫn có nhu cầu cần được đáp ứng.
  4. Nhật giữ quyền duy nhất cập nhật, chỉnh sửa văn bản này
  5. Phán quyết của tòa án Nhà nước Việt Nam là phán quyết cuối cùng
  6. Bản hướng dẫn này được xây dựng từ dưới lên, tức là dựa vào Tình huống ví dụ để thiết lập quy tắc

Các tài nguyên cụ thể

Sự chú ý

  1. Sự chú ý của Nhật được chi phối bởi các niềm tin, nhu cầu, trạng thái tinh thần, trạng thái thể chất, môi trường, hiểu biết, trải nghiệm, trí nhớ, sở thích, xung năng, mục tiêu, v.v. của Nhật
  2. Việc bị cắt ngang sự tập trung hoặc cắt ngang giấc ngủ về cơ bản là thấy phiền.
  3. chỉ không làm phiền khi đang không ngủ và không làm việc. Nếu không biết lúc nào đang ngủ hay đang làm việc thì tốt nhất là nhắn tin
  4. Việc nhắn tin nên ở các nền tảng thống nhất để không bị phân mảnh cũng như chỉ thông báo thứ cần thiết
  5. Nếu bạn giải thích không thuyết phục, khả năng cao là Nhật sẽ không nhớ lời giải thích của bạn
  6. Nhật sẽ chọn quan điểm Nhật cảm thấy có lý nhất để ra quyết định. Chỗ nào Nhật thấy chưa hợp lý thì Nhật sẽ phải hỏi lại. Trong trường hợp cần hành động nhanh thì Nhật sẽ giải trình quyết định của mình sau
  7. Việc quan trọng nhất thì sẽ luôn ở đằng sau đầu, nên những vấn đề còn lại thường không dành tài nguyên nhận thức nhiều
  8. Nhật cảm thấy việc sợ không có lý do là vô lý. Rủi ro do tự tin
  9. Nếu gọi điện không có lý do hợp lý thì sẽ được hỏi lại
    Nói chung, Nhật không sử dụng các mô hình ngôn ngữ lớn. Nếu có sử dụng thì sẽ nói rõ
    Nhật thấy mình không vấn đề gì trong việc làm những thứ thủ công, nhưng nghxi rằng việc dùng đầu óc sẽ có tác động lớn hơn. Và thứ Nhật muốn đạt tới đòi hỏi trí óc nhiều hơn chân ta,

Thời gian

  1. Những gì bạn làm được thì hãy tự làm
  2. Nếu không làm cho Nhật thấy được vì sao bạn cần gấp thì Nhật sẽ giúp bạn khi tiện
  3. Nhật sẽ tập trung vào câu hỏi Nhật thấy là quan trọng hơn
  4. Nếu một người không giải thích được vì sao họ bận, thì mặc định là họ rảnh
  5. Tình trạng khẩn cấp tạm thời
  6. Đánh đổi các giá trị
  7. Có thể không hướng đến mục tiêu của Nhật, nhưng vẫn hữu ích
  8. Ưu tiên buổi sáng. Kết hợp đi nhiều việc
  9. Không phải lúc nào cũng suy
  10. Nếu đi ra ngoài thì sẽ kết hợp làm các việc cần ra ngoài luôn
  11. Mọi thứ sẽ luôn tốn

Tiền bạc

  1. Mượn tiền là hình thức vay tiền không có lãi và không có kỳ hạn. Tức là trả lúc nào cũng được và trả đúng số tiền ban đầu là được
  2. Những người vay, mượn tiền của Nhật sẽ gọi chung là người vay (gọi mỹ miều thì là khách hàng, gọi bình dân thì là con nợ). Những người Nhật vay, mượn tiền sẽ gọi chung là người được vay (gọi mỹ miều thì là đối tác làm ăn, gọi bình dân thì là chủ nợ)
  3. Mọi chi phí phát sinh từ khoản vay (VD: phí, lãi, phạt) người vay phải chịu, trừ các loại tiền phục vụ cho việc thảo luận (VD: ăn uống, đi lại). Nhưng những lúc Nhật hết tiền thì cũng cần một ai đó trả
  4. Nhật có 2 loại uy tín khi đi vay người khác: điểm tín dụng đối với hệ thống ngân hàng, và uy tín đối với người thân, bạn bè. Đây là tài sản chung của tất cả người vay
  5. Trong trường hợp người vay ko có nhu cầu giữ cho điểm tín dụng của anh tốt thì khỏi
  6. Tất cả những người vay, mượn phải chịu trách nhiệm cho người vay khác
  7. thì tùy vào quyết định của bên cho vay
  8. Việc nhận tiền đồng nghĩa là chấp nhận các
  9. Nhật khuyến khích bạn tìm đến các loại quỹ khác
  10. Sự xác nhận, đồng ý của Nhật có thể là vì lúc đó không nghĩ ra câu hỏi gì thêm. Khi đã nghĩ ra câu hỏi nhưng việc hỏi không đem lại kết quả thì sự đồng ý có thể bị hủy bỏ mà không cần thông báo rõ

Điểm tín dụng của Nhật

Uy tín dùng để vay giùm

Thông tin

  1. Mọi thông tin đều mở. Ai hỏi thì sẽ được trả lời đầy đủ. Nếu phải trả lời thường xuyên thì sẽ được ghi lại
  2. Nếu cần giữ kín một thông tin nào đó thì phải giải thích tại sao
  3. Có thể có những lúc hệ thống có vấn đề hoặc chưa ghi lại nên không phải lúc nào thông tin cũng cập nhật hoặc truy cập được. Những lúc đó cứ hỏi trực tiếp thì sẽ được trả lời

Rủi ro khi sử dụng nguồn lực của Nhật. Cách Nhật xử lý thiệt hại

  1. Nhật hướng đến sự tò mò, thong thả, thanh thản, khoáng đạt. Nhật nghĩ rằng ai cũng nên có nó, và sẽ tìm cách để những người không có nó có nó
  2. Một hệ quả của việc đó là Nhật có xu hướng thử nghiệm. Nếu bạn không thuyết phục được rằng hành vi bạn cho là có thể dẫn tới điều tệ thực sự không đáng để thử thì Nhật sẽ có xu hướng làm thử cho biết
  3. Có nhiều tình huống khiến Nhật làm một điều tệ:
  • Không biết là nó tệ
  • Biết tệ nhưng muốn biết xem thật sự nó tệ đến mức nào. Biết đâu sau một thời gian thích ứng thì nó hết tệ
  • Biết tệ nhưng nghĩ rằng nó ngăn cản được điều tệ hơn hay làm điều tệ hơn khác biến mất
  • Thỏa mãn cảm giác quyền lực
  1. Nhật nhận khắc phục thiệt hại với những thứ Nhật cảm thấy tệ. Nhật sẽ xin lỗi khi thấy Nhật làm vì cảm giác quyền lực
  2. Với những thiệt hại Nhật biết là tệ nhưng vẫn làm, Nhật chịu trách nhiệm hoàn toàn
  3. Với những thiệt hại không do Nhật cố ý, nhưng cũng thấy là tệ, thì xem như là thiệt hại chung. Và như vậy thì việc khắc phục hậu quả cũng là việc chung
  4. Với những thiệt hại Nhật không thấy là tệ với bất kỳ ai, Nhật không thấy có lý do gì phải chịu trách nhiệm

Việc phổ biến hướng dẫn này

  1. Một mặt, Nhật muốn ai cũng đọc trước hướng dẫn này để đỡ mất thời gian của nhau. Mặt khác, Nhật không muốn văn bản này được xem như là ranh giới, nội quy. Nếu nó không hợp lý, nó cần bị thách thức bởi Nhật. Nếu nó hợp lý, nó tất yếu phải được tiếp nhận như là lẽ thường tình. Thứ Nhật làm chỉ là văn bản hóa lẽ thường tình đó. Nên nó giống như là nội quy trong công viên: không ai cần phải đọc nó nhưng cũng chẳng làm sai.Thứ Nhật muốn là phá bỏ các ranh giới này
    Trong những lúc đó, Nhật sẽ im lặng
    Muốn cùng đồng ý với nha
  2. Đây không nên được xem là nguyên tắc của Nhật, mà là những điều ai cũng đồng ý với nhau
  3. Đây là một dạng biết tệ nhưng vẫn làm để tránh thứ tệ hơn